Spesolimab: bước tiến mới trong điều trị vảy nến thể mủ toàn thân

Ngày đăng: 24/06/2026 bvdalieutrunguong

Vảy nến thể mủ toàn thân là bệnh da viêm hiếm gặp, có thể bùng phát cấp, diễn tiến nặng và đe dọa tính mạng. Những hiểu biết mới về vai trò trung tâm của trục interleukin-36 đã mở ra hướng điều trị đích cho bệnh lý này. Spesolimab, kháng thể đơn dòng ức chế thụ thể interleukin-36, là một trong những thuốc đặc hiệu cho vảy nến thể mủ toàn thân được phê duyệt đầu tiên, cho thấy khả năng làm sạch mụn mủ nhanh trong đợt cấp. Với bác sĩ lâm sàng, đây là lựa chọn đáng chú ý ở người bệnh nặng, tái phát nhiều lần hoặc đáp ứng chưa đầy đủ với các phương pháp điều trị truyền thống.

Vảy nến thể mủ cần nhận diện sớm

Vảy nến thể mủ toàn thân đặc trưng bởi mụn mủ vô khuẩn lan rộng trên nền da đỏ, có thể kèm sốt, tăng phản ứng viêm toàn thân và nguy cơ biến chứng đa cơ quan. Đợt cấp có thể xuất hiện tự phát hoặc liên quan nhiễm trùng, stress, thuốc, ngừng thuốc hoặc thai kỳ.

Trong thực hành, bệnh cần được phân biệt với phản ứng mụn mủ cấp do thuốc và các bệnh da mụn mủ khác. Nhiều trường hợp cần nhập viện, điều trị tích cực. Vì vậy, nhận diện sớm và kiểm soát nhanh đợt cấp là mục tiêu rất quan trọng trong thực hành da liễu.

Trục interleukin-36 trong cơ chế bệnh sinh

Vảy nến thể mủ toàn thân được xếp trong nhóm bệnh vảy nến, nhưng có cơ chế bệnh sinh khác biệt với vảy nến thông thường. Bệnh liên quan nổi bật đến quá hoạt miễn dịch bẩm sinh, đáp ứng viêm qua tế bào sừng và bạch cầu trung tính, trong đó trục interleukin-36 giữ vai trò trung tâm.

Bình thường, chất đối kháng thụ thể interleukin-36 (IL-36Ra) giúp kìm hãm hoạt hóa IL-36R và hạn chế phản ứng viêm. Khi có bất thường liên quan IL36RN, chức năng IL-36Ra bị suy giảm, làm tín hiệu IL-36 dễ bị hoạt hóa quá mức. Bên cạnh đó, các biến đổi liên quan AP1S3, CARD14 và MPO có thể góp phần khuếch đại đáp ứng viêm thông qua hoạt hóa NF-κB, tăng hoạt động protease nguồn gốc bạch cầu trung tính và duy trì vòng viêm dương tính.

Hậu quả là tế bào sừng được hoạt hóa qua các con đường NF-κB và MAPK, làm tăng phóng thích cytokine tiền viêm, kích hoạt các tế bào miễn dịch, huy động bạch cầu trung tính vào thượng bì và thúc đẩy hình thành mụn mủ vô khuẩn. Đây là cơ sở sinh học quan trọng cho các liệu pháp điều trị đích nhắm vào trục IL-36 trong vảy nến thể mủ toàn thân.

Hình 1. Cơ chế bệnh sinh vảy nến thể mủ toàn thân

Hình 1. Cơ chế bệnh sinh vảy nến thể mủ toàn thân

Spesolimab và điểm mới trong điều trị

Spesolimab là kháng thể đơn dòng người hóa, gắn vào thụ thể interleukin-36 và ngăn các chất chủ vận interleukin-36 hoạt hóa thụ thể này. Điểm mới của thuốc nằm ở chỗ tác động trực tiếp vào mắt xích trung tâm của bệnh sinh, thay vì chỉ ức chế viêm theo hướng không đặc hiệu.

Spesolimab được phê duyệt lần đầu tại Hoa Kỳ năm 2022 cho vảy nến thể mủ toàn thân. Hiện thuốc đã được phê duyệt tại nhiều quốc gia và khu vực trong điều trị vảy nến thể mủ toàn thân ở người từ 12 tuổi trở lên và cân nặng từ 40 kg trở lên.

Đối với đợt bùng phát cấp, thuốc được dùng đường truyền tĩnh mạch 900 mg trong 90 phút; nếu triệu chứng còn tồn tại, có thể dùng thêm một liều 900 mg sau 1 tuần. Ở giai đoạn không có đợt cấp, phác đồ tiêm dưới da gồm liều nạp 600 mg, sau đó 300 mg sau 4 tuần và tiếp tục mỗi 4 tuần.

Hình 2. Cơ chế tác động của spesolimab lên cơ chế bệnh sinh vảy nến thể mủ toàn thân

Hình 2. Cơ chế tác động của spesolimab lên cơ chế bệnh sinh vảy nến thể mủ toàn thân

Bằng chứng lâm sàng chính

Bằng chứng nổi bật nhất là thử nghiệm EFFISAYIL-1, nghiên cứu pha 2, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược trên 53 người bệnh đang có đợt bùng phát cấp. Ở tuần thứ nhất, 54% người bệnh dùng spesolimab đạt sạch mụn mủ hoàn toàn, tức điểm mụn mủ GPPGA bằng 0, không còn mụn mủ nhìn thấy, so với 6% ở nhóm giả dược. Đồng thời, 43% người bệnh đạt GPPGA tổng thể 0 hoặc 1, tương ứng tình trạng da sạch hoặc gần sạch, so với 11% ở nhóm giả dược. Trong đó, “sạch mụn mủ” đánh giá riêng thành phần mụn mủ, còn GPPGA tổng thể phản ánh đánh giá chung về đỏ da, mụn mủ và bong vảy/vảy tiết. Kết quả này có ý nghĩa thực hành vì tốc độ kiểm soát mụn mủ và phản ứng viêm có thể ảnh hưởng đến nhu cầu nhập viện, chăm sóc hỗ trợ và nguy cơ biến chứng.

Các phân tích mô học, phiên mã và protein từ EFFISAYIL-1 giúp củng cố cơ sở sinh học phân tử cho hiệu quả lâm sàng. Sau điều trị, biểu hiện các gen thuộc trục interleukin-36 giảm; các dấu ấn liên quan đến huy động bạch cầu trung tính và cytokine tiền viêm cũng giảm. Các thay đổi này xuất hiện từ tuần 1, duy trì đến tuần 8 ở da tổn thương, đồng thời các dấu ấn viêm trong huyết thanh như interleukin-17, interleukin-8 và interleukin-6 giảm đến tuần 12.

Ở giai đoạn không có đợt cấp, dữ liệu thử nghiệm EFFISAYIL-2 cho thấy phác đồ tiêm dưới da 600 mg liều nạp, sau đó 300 mg mỗi 4 tuần giúp giảm tỷ lệ xuất hiện đợt bùng phát cấp đến tuần 48. Tỷ lệ người bệnh có ít nhất một đợt cấp là 10% ở nhóm spesolimab, so với 52% ở nhóm giả dược. Dữ liệu này gợi ý vai trò của spesolimab không chỉ trong kiểm soát đợt cấp, mà còn trong chiến lược giảm nguy cơ tái bùng phát ở nhóm người bệnh phù hợp.

Tổng quan hệ thống và phân tích gộp năm 2026 trên 4 thử nghiệm ngẫu nhiên với 176 người bệnh cũng ghi nhận spesolimab làm tăng khả năng sạch mụn mủ hoàn toàn và đạt da sạch hoặc gần sạch so với giả dược. Các biến cố bất lợi nhìn chung tương tự giữa các nhóm và phần lớn ở mức độ nhẹ đến trung bình. Tuy nhiên, bằng chứng hiện có vẫn còn giới hạn bởi số lượng nghiên cứu chưa nhiều, cỡ mẫu nhỏ và thời gian theo dõi chưa dài.

Lưu ý an toàn

Trước khi dùng spesolimab, bác sĩ cần đánh giá nhiễm trùng hoạt động, sàng lọc lao hoạt động hoặc lao tiềm ẩn, rà soát tiêm chủng và tránh vắc xin sống trong thời gian điều trị cũng như ít nhất 16 tuần sau điều trị. Các phản ứng quá mẫn, phản ứng liên quan truyền dịch, phản vệ và phản ứng thuốc có tăng bạch cầu ái toan kèm triệu chứng toàn thân đã được ghi nhận. Những tác dụng không mong muốn thường gặp trong đợt cấp gồm mệt mỏi, đau đầu, buồn nôn, ngứa, phản ứng tại vị trí truyền và nhiễm trùng tiết niệu.

Tiếp cận bước đầu tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

Do đây là thuốc sinh học mới, chi phí điều trị còn cao và khả năng tiếp cận chưa đồng đều, quyết định dùng thuốc cần được cá thể hóa theo mức độ nặng, nguy cơ tái phát, bệnh đồng mắc, nguy cơ nhiễm trùng, khả năng theo dõi và điều kiện thực tế của người bệnh.

Theo ghi nhận, Bệnh viện Da liễu Trung ương là một trong những đơn vị đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận và triển khai điều trị bằng spesolimab cho người bệnh vảy nến thể mủ toàn thân đợt cấp, bước đầu cho thấy tín hiệu đáp ứng điều trị khả quan. Tuy vậy, số ca còn ít nên cần tiếp tục theo dõi thêm về duy trì đáp ứng, an toàn và hiệu quả trong thực hành lâm sàng tại Việt Nam.

Kết luận

Spesolimab mở ra một lựa chọn điều trị đích mới cho vảy nến thể mủ toàn thân nhờ cơ chế ức chế thụ thể interleukin-36. Dữ liệu hiện có cho thấy thuốc giúp kiểm soát nhanh mụn mủ trong đợt bùng phát cấp và giảm nguy cơ tái phát ở giai đoạn bệnh ổn định.

Tài liệu tham khảo

1.Farag A, Visvanathan S, Bachelez H, Morita A, Lebwohl MG, Barker JN, et al. Spesolimab Reduces Inflammation in Generalized Pustular Psoriasis: Molecular Characterization of Flare Treatment in EFFISAYIL 1. Journal of Investigative Dermatology. 2025;145:573-582.

2.Alzahrani D, Hasanain A, Alharthy R, Aljefri Y, Alghamdi Y, Alshaikh R, et al. The efficacy and safety of spesolimab in patients with generalized pustular psoriasis flares: a systematic review and meta-analysis. Frontiers in Medicine. 2026;12:1749320.

3.SPEVIGO (spesolimab-sbzo) injection, for subcutaneous or intravenous use. Full Prescribing Information. Revised 03/2026.

4.Kodali N, Blanchard I, Kunamneni S, Lebwohl MG. Current management of generalized pustular psoriasis. Experimental Dermatology. 2023;32:1204-1218.

5.Bachelez H, Choon S-E, Marrakchi S, Burden AD, Tsai T-F, Morita A, et al. Trial of Spesolimab for Generalized Pustular Psoriasis. New England Journal of Medicine. 2021;385:2431-2440.

Viết bài: TS.BS. Vũ Hải Yến – Khoa Bệnh da Tự miễn và Vảy nến

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

dalieu.vn dalieu.vn dalieu.vn